Tìm hiểu về thủ thuật thẩm mỹ nâng môi ở người châu Á

Bài viết Tìm hiểu về thủ thuật thẩm mỹ nâng môi ở người châu Á được biên dịch từ Sách “Phẫu thuật thẩm mỹ khuôn mặt người Châu Á” của Tiến sĩ, Bác sĩ Jung I. Park.

Mặc dù một số người không thích cặp môi dày và to, nhưng nhiều người khác cho rằng đôi môi đầy đặn là một đặc điểm hấp dẫn giới tính. Những năm gần đây, xu hướng này đi song hành với độ phổ biến tăng dần của đôi môi gợi cảm trong ngành người mẫu và trên các trang tạp chí, như là một biểu tượng của sự hấp dẫn giới tính. Mặt khác, môi trên trở nên dài hơn và đôi môi mỏng hơn khi lão hóa. Với người lớn tuổi, nâng môi là một cách giúp trông trẻ hơn và tạo nên sự tự tin trong giao tiếp công việc. Tiêm, cấy, hoặc dùng mô tự do có thể giúp làm đầy môi. Cắt lọc môi trên và cải thiện môi đỏ tươi cần thiết cho bệnh nhân lớn tuổi, vì giúp lấy lại phần môi trên và cân bằng màu đỏ tươi cho môi như thời còn trẻ. Làm mỏng môi không liên quan đến vẻ đẹp lý tưởng mà truyền thông tuyên truyền. Hơn nữa, mong muốn thu nhỏ môi thường là xuất phát từ cá nhân với mong muốn phù hợp đồng trang lứa và vượt qua được sự khác thường của đôi môi lớn. Mặc dù các kĩ thuật phẫu thuật môi ở đây không khác biệt nhiều với những kĩ thuật của phương Tây, nhưng tác giả đã thêm chương này vào sách, vì những sự quá tải trong quy trình phẫu thuật trên bệnh nhân châu Á và những cách ứng dụng khác của quy trình do đặc điểm da khác nhau và nhận thức xã hội khác biệt trong các cộng đồng dân cư châu Á.

1. Nâng môi

1.1.Tiêm chất làm đầy (filler)

Tiêm collagen

Cả collagen người và bò đều được lưu hành và có thể tiêm vào môi. Mặc dù mũi tiêm chỉ tồn tại được khoảng 4 tháng, nhiều bệnh nhân vẫn chọn phương pháp tiêm thay vì phẫu thuật, bởi vì họ muốn đơn giản và nhanh chóng quay lại công việc thường ngày. Chi phí không phải là vấn đề đối với những bệnh nhân này, bởi vì những mũi tiêm lặp lại sẽ mắc hơn chi phí phẫu thuật. Một số bệnh nhân thử phương pháp tiêm để đánh giá hiệu quả của nâng môi mà không cần sử dụng phẫu thuật. Những bệnh nhân thích hiệu quả của nó có thể tiếp tục bằng một phương pháp phẫu thuật vĩnh viễn khác. Nhựng người lớn tuổi thường chọn tiêm collagen để nâng vùng nếp viền trắng.

Collagen tự thân

Collagen tự thân được chiết tách từ colla- gen của chính mô bệnh nhân. Nó thường được dùng trong những phẫu thuật như nâng trán. Một mẩu mô da của bệnh nhân được gửi đến phòng xét nghiệm để tinh chế, và collagen được chiết ra, sau đó gửi lại phẫu thuật viên. Quá trình tinh chế và gửi mẫu thường tốn thời gian, và phương pháp này tốn nhiều tiền.

Restylene

Restylene là một loại gel tiêm, bao gồm acid hyaluronic ổn định không từ động vật (NA- SHA gel, Q-med, Sweden), 20 mg/ mL, được tạo thành qua sự lên men của vi khuẩn. Acid hyaluronic có khả năng liên kết với nước và hình thành dạng polymer hydrate hóa có độ nhớt cao. Nó diễn ra tự nhiên và trong hình thái tương tự như chất mô liên kết của lớp bì của tất cả các loài, và nó có hoạt tính sinh học cao tuyệt vời. không như collagen, test trước thủ thuật không cần thiết. tiêm hoát chất này có thể gây đau và cần gây tê khu trú. Việc tiêm có thể tạo ra một khối phồng sờ chạm, cải thiện dần qua thời gian. Kết quả của thủ thuật kéo dài 6 tháng hoặc hơn.

Hylaform

Hylaform® (Genzyme Co., Ridgefield, NJ) là một chế phẩm acid hyaluronic tiêm được chiết xuất từ mào gà trống. Nó có trọng lượng phân tử lớn nhưng nồng độ thấp hơn 6 mg/ml.

Tiêm mỡ

Tiêm mỡ có xu hướng biến mất nhanh ở vùng môi hơn là những vùng khác. Tiêm vào cơ có thể kéo dài thời gian tồn tại của chất mỡ được tiêm. Kiểm soát thể tích và sự cân đối cũng là một vấn đề. Bất kì mô mỡ còn sống nào cũng đều tồn tại vĩnh viễn.

1.2.Phẫu thuật nâng môi

Sử dụng vật liệu ghép Alloderm®

Mô bì Alloderm (LifeCell, The Woodland, TX) là một chất đệm lưới vùng bì ngoài tế bào từ da người. Những phần của tế bào bị lấy đi để ngăn đào thải. Alloderm giúp giữ tối đa tính toàn vẹn các thành phần ngoại bào của da. Lớp chất ngoài tế bào có chức năng như một tấm nề cho sự tăng trưởng và sự nguyên vẹn của nguyên bào sợi và tế bào biểu mô thành các mô bì vĩnh viễn.

Polytetraflouroethylene

Trước tình trạng thừa thãi các vật liệu cấy ghép vĩnh viễn, chất e-PTFE được sử dụng như là một vật liệu ghép dành cho nâng môi. Các vật liệu ghép vùng môi/mặt được chế tạo như SamTM (Gore-Tex®, Gore and Associates, Flagstaff, AZ), Advan- taTM (Atrium Medical, Hudson, NH) và UltrasoftTM (Tissue Tech- nologies, San Francisco, CA). Vật liệu ghép vùng mặt Sam là những tấm cứng của hãng Gore-Tex và có thể cắt thành kích cỡ mong muốn. AdvantaTM cung cấp nhiều mẫu thiết kế với lõi mềm trung tâm và mặt ngoài rỗ nhẹ. Một trocar trước đó sẽ giúp quá trình đặt vật liệu ghép dễ hơn. Ultrasoft là một ống rỗng cho phép mô phát triển trong lòng ống. Vật liệu ghép Ultrasoft hiện hành có hệ thống vận chuyển

2. Tư vấn

Bệnh nhân nên được hướng dẫn toàn diện về những điều được và mất của các vật liệu ghép khác nhau và nên khuyến khích họ chọn điều tốt nhất. Bản chất tạm thời của alloderm và khả năng sờ chạm thấy của vật liệu ghép nhân tạo nên được đánh giá cẩn thận.

3. Quy trình

Đánh răng và súc miệng kỹ với dung dịch chứa cồn vào đêm trước và sáng ngày phẫu thuật. thoa kem tê vùng vào vùng môi đỏ son trước khi tiêm thuốc tê vùng. Truyền tĩnh mạch thuốc an thần hoặc cho uống thuốc trước khi gây mê: 10 – 20 mg diazepam, 1 viên Darvocet-N-100TM (Mallincrodt Inc., St. Louis, MO), và kháng sinh phổ rộng vào 1 giờ trước phẫu thuật. Gây tê vùng bằng cách tiêm vào thần kinh dưới ổ mắt chi phối môi trên và dây thần kinh cằm chi phối môi dưới 2 ml gồm Marcaine 0.5% và epinephrine 1:100,000 ở mỗi vị trí. Lỗ ra thần kinh dưới ổ mắt có thể sờ thấy khoảng 1 cm phía dưới của vành đai dưới ổ mắt tại phần giữa. Thực hiện tiêm xuy- ên qua rãnh má – nướu răng bằng kim 1.5 inch, 27G. Gây tê thần kinh cằm bằng cách tiêm qua lớp niêm mạc chân răng nanh. Có thể thấy thần kinh cằm khi lật môi dưới ra ngoài và kéo căng lớp niêm mạc. Phần môi đỏ được tiêm bằng kim 30G với lidocaine 1% và epineph- rine 1:100,000 trong chất đệm natri bicarbonate tỉ lệ 1:10. Tiêm cho cả môi trên và dưới với tổng thể tích 5 ml. Từng môi được tiêm riêng biệt khoảng 10 phút trước khi thực hiện thủ thuật. Tiêm đều toàn bộ bề mặt rất quan trọng nhằm giữ sự tạo khối đều đặn. Sự bất cân xứng không nhận biết sẽ làm sai lệch đánh giá của phẫu thuật viên về tính đối xứng. Sự tạo khối bất thường thường chỉ xuất hiện khi mà tình trạng sưng đã giảm. Bút đánh dấu y khoa được dùng để đánh dấu đường cắt tại 4 góc của miệng. Chuẩn bị và che phủ vô trùng toàn bộ với Phisohex® (Sanofi-Synthelabo Inc., New York, NY). Vùng tiền đình miệng được chèn gạc vô trùng 4×4 mà không làm méo lệch nét tạo khối trên môi. Lưỡi da Bark-Parker #11 được sử dụng để tạo những đường cắt dài 0.5 – 1 cm, cách 5mm về phía trong, tính từ mép nối và đường thẳng góc đi từ viền môi băng qua đường nước bọt.

4. Mổ kiểu túi

Sau khi đã tạo hình túi hoặc đã đặt trocar xuyên qua môi, vật ghép sẽ được chèn vào. Một người phụ mổ nên kéo khóe miệng ra phía ngoài bằng móc kéo da. Môi được giữ chặt và kéo khi phần giữa được giữ chặt, và môi được kéo về phía đối diện để dễ dàng phẫu thuật. Tạo hình túi bằng kéo phẫu thuật theo hướng mở ra. Vùng túi rộng khoảng 1 cm ở sâu dưới niêm mạc ngay phía trên cơ vòng miệng và đi theo đường nước bọt. Mô ghép Alloderm cần một vùng túi rộng. Tuy nhiên, mô ghép e-PTFE chỉ cần không gian nhỏ hơn, phụ thuộc vào độ dày của mô ghép. Khi mà vết cắt đi qua đường giữa, lặp lại từ phía khóe miệng đối diện cho đến khi hai đường thông gặp nhau ở chính giữa.

5. Chèn mô ghép

Forcep hàm cá sấu (Alliga- tor-type) được chèn vào qua vết mổ. Đầu forcep chui ra ngoài qua phía đối diện của vết mổ và kẹp lấy mô ghép. Khi phẫu thuật viên đang giữ chặt vùng môi bằng ngón cái và các ngón còn lại, mô ghép sẽ được kéo vào trong đường hầm. Mô ghép nên được thiết kế đủ dài để hai đầu vẫn còn nằm bên ngoài vết mổ sau khi đặt hoàn tất. Mô phải được trải đều trên mặt mô ghép. Phần mô ghép dư sẽ được tỉa bỏ. Các đầu của mô ghép sau đó được vùi trong vết mổ. Vùng túi cần phải được làm đủ chặt để giữ mô ghép không di động. Vết cắt niêm mạc sẽ được đóng theo lớp bằng chỉ VicrylTM 5-0 (Ethicon Co., Somerville, NJ) và chỉ chromic cat- gut theo đường ngang.

5.1.Chèn mô ghép Gore-Tex

Mô ghép vùng mặt Sam được vận chuyển trong kiện hàng vô trùng ở các kích cỡ khác nhau. Nó sẽ được cắt thành những kích cỡ mong muốn trên bàn phẫu thuật. Găng tay phẫu thuật viên phải được rửa với nước muối vô trùng để làm trôi lớp bột. Phương pháp phẫu thuật tạo hầm và chèn mô ghép tương tự như mô tả ở trên. Đường hầm được tạo hẹp hơn đường hầm cho Alloderm. Một vùng túi chặt hơn giúp ổn định mô ghép. Bởi vì mô ghép trồi ra là một vấn đề, đầu mô ghép được cắt ngắn 5 mm từ vị trí vết mổ. Mô ghép Sam cũng lưu hành trên thị trường dưới dạng sợi đi kèm tro- car.

5.2.Chèn mô ghép Advanta

Mô ghép Advanta hiện có kèm hoặc không kèm với trocar. Phương pháp chèn mô ghép có kèm trocar cũng tương tự như chèn mô ghép vùng mặt Sam. Tro- car đính kèm cho phép chèn mà không yêu cầu tạo đường hầm trước đó. Mô ghép có thể được đẩy xuyên qua lớp niêm mạc qua một vết mổ nhỏ ở tấm dưới niêm, dọc theo đường nước bọt và đi ra gần khóe miệng bên đối diện.

5.3.Chèn mô ghép Ultrasoft Tu- bular e-PTFE

Đánh dấu đường nước bọt trên vùng môi màu đỏ. Dùng lưỡi dao Bard-Parker #11 để tạo đường cắt thẳng góc với viền môi và khoảng 5 mm về phía trong đối với từng bên khóe miệng. Dùng kéo iris nhỏ để tạo rãnh mép sâu 1 cm nằm phía ngoài vết cắt và hướng thẳng về phía mép. Một trocar có sẵn được đưa vào vết cắt (hình 27-1, A). Tay cầm được nắm chặt giữa ngón cái và các ngón tay khi ngõ vào được nhẹ nhàng bộc lộ. Trocar đi tới phía trước qua vết mổ và đi song song mặt da ở lớp mô dưới da, ngay trên lớp cơ. Trocar đi ra ngoài qua vết cắt đối diện (xem hình 27-1, B). Tay thuận đẩy trocar đi qua điểm thoát theo chuyển động quay và đẩy, trong khi môi được giữ chặt bới tay không thuận. Vùng da nhăn của môi được kéo đều trên trocar, và mức độ sâu đều được kiểm tra qua sờ chạm. Đầu khóa được tháo bỏ, và lực ép nhẹ được đặt trên piston tay cầm của thiết bị chèn để giải phóng khối trocar-mô ghép. Khi phụ mổ cầm phần đầu của thiết bị chèn, ống bao ngoài của thép không gỉ được tháo ra qua lỗ vào (xem hình 27-1, C). Ống ngoài được tháo bỏ bằng động tác xoắn vặn trong khi tay không thuận đẩy mô vùng môi hướng về phía đối diện. Thời điểm này thì mô ghép đã được bộc lộ hoàn toàn và trocar vẫn ở bên trong lòng ống (hình 27-1, D). Kế tiếp, đầu trocar và phần cuff được tách khỏi mô ghép bằng động tác xoay và đẩy nhẹ nhàng. Trocar có dây guide được đẩy ra khỏi lòng mô ghép bằng cách đẩy đầu trocar (xem hình 27-1, E). Một đoạn ngắn của mô ghép sẽ trồi khỏi lối vào và lối thoát. Lòng mô ghép được rửa bằng dung dịch Betadine với kim tiêm 10 ml và catheter mạch 20G. Mỗi đầu của mô ghép được cắt gọt bằng kéo (xem hình 27-1, F và G). Đoạn cuối của mô ghép chôn vùi vào túi vùng mép (xem hình 27- 1, H). Vết mổ được đóng bằng chỉ Vicryl 5-0 ở mô dưới niêm và chỉ chromic 4-0 theo phương nằm ngang để tạo mối nối ngăn nước (xem hình 14-1, I).
Do tính đơn giản của nó mà phẫu thuật nâng môi với trocar trở nên phổ biến (hình 14-2, A và B, và 14-3, A và B).

Hình 14-1 (tiếp theo) A, Đưa trocar vào qua đường rạch mở lối 5 mm. B, Trocar hoàn toàn đi qua tấm dưới niêm. C, Tháo bỏ vỏ kim loại, để lộ mô UltraSoft (Tissue Technolo-gies, San Francisco, CA). D, Bộc lộ cannular bên trong. E, Loại bỏ cannular bên trong khỏi lòng ống của mô ghép. F, Tỉa phần thừa của mô UltraSoft.
Hình 14-1 (tiếp theo) A, Đưa trocar vào qua đường rạch mở lối 5 mm. B, Trocar hoàn toàn đi qua tấm dưới niêm. C, Tháo bỏ vỏ kim loại, để lộ mô UltraSoft (Tissue Technolo-gies, San Francisco, CA). D, Bộc lộ cannular bên trong. E, Loại bỏ cannular bên trong khỏi lòng ống của mô ghép. F, Tỉa phần thừa của mô UltraSoft.
Hình 14-1 (hết) G, Tỉa luôn phần đầu đối diện. H, Bờ môi được kéo căng đối xứng và thẳng. I, Đóng vết rạch.
Hình 14-1 (hết)
G, Tỉa luôn phần đầu đối diện.
H, Bờ môi được kéo căng đối xứng và thẳng.
I, Đóng vết rạch.
Hình 14-2 A, hình ảnh tiền phẫu cho thấy đường bờ môi mỏng và sắc. B, hình ảnh hậu phẫu sau nâng môi trên và môi dưới. Đạt được bờ môi mềm mại, tròn và dày.
Hình 14-2
A, hình ảnh tiền phẫu cho thấy đường bờ môi mỏng và sắc.
B, hình ảnh hậu phẫu sau nâng môi trên và môi dưới. Đạt được bờ môi mềm mại, tròn và dày.
Hình 14-3 A, Tiền phẫu nhìn nghiêng. B, hình ảnh hậu phẫu. Thấy rõ môi tròn và dày.
Hình 14-3
A, Tiền phẫu nhìn nghiêng.
B, hình ảnh hậu phẫu. Thấy rõ môi tròn và dày.

5.4.Chuẩn bị mô ghép Alloderm và cách chèn

Thể tích Alloderm thích hợp được tính toán trước phẫu thuật. Độ dày của Alloderm được xác định trước bởi độ dày của lớp bì khoảng 1-2 mm. Xếp chồng mô ghép lại sẽ giúp kiểm soát được thể tích. Những gói mô cắt sẵn 2×4 cm lí tưởng cho việc nâng môi. Mô ghép được cắt và xếp lại theo hình dạng và kích thước mong muốn. Độ cao mô ghép phù hợp xấp xỉ 1 cm. Nếu cần mô ghép dài và nhiều thể tích hơn, hiện có những gói mô 3×7 cm đóng gói sẵn. Chiều dài mô ghép có thể bằng với chiều dài môi. Mô được ngâm trong nước muối sinh lý ít nhất 10 phút. Cạo một lớp giấy mỏng từ mô alloderm ướt. Nếu cần, những mảnh Alloderm được khâu lại hoặc cuộn lại trước khi chèn (hình). Một sợi chỉ khâu lụa 2-0 đi xuyên qua mỗi đầu tận của Alloderm và không cột lại. For- cep hàm cá sấu đi vào đường hầm và kẹp sợi chỉ. Mô ghép Alloderm được kéo vào trong đường hầm bằng cách kéo sợi chỉ. Chỉ khâu tơ 2-0 ở mỗi đầu tận của Alloderm được dùng để di chuyển mô ghép tới lui khi điều chỉnh vị trí. Sau khi đã được yên vị hợp lý, các sợi chỉ khâu được kéo ra từ mỗi đầu tận của mô ghép. Đầu cuối của Al- loderm được cắt ngắn để giữa nó cách xa vết cắt (hình 14-4, A đến C). Mặc dù tính vĩnh cửu của mô ghép được chứng minh qua các thử nghiệm thực tế, phần lớn mô ghép tiêu biến trong vòng 6 – 12 tháng. Tuy nhiên, không như tiêm chất làm đầy, một số ít có thể tồn tại vĩnh cửu (hình 14-5, A tới C). Khuyến cáo chỉnh sửa lại.

Hình 14-4 A, Alloderm. B, Tạo khoang dưới niêm. Chuẩn bị kéo mô ghép qua khoang. C, Đặt mô ghép vào vị trí.
Hình 14-4
A, Alloderm.
B, Tạo khoang dưới niêm. Chuẩn bị kéo mô ghép qua khoang.
C, Đặt mô ghép vào vị trí.
Hình 14-5 Đặt mô Alloderm. A, Tiền phẫu. B, Hậu phẫu 1 tháng. C, Hậu phẫu 7 tháng. Dù rằng có giảm thể tích rõ trong 1 -7 tháng hậu phẫu, nhưng nó cũng cải thiện rõ rệt khi so với hình ảnh tiền phẫu. Cải thiện nhiều được thấy rõ ở vùng bờ ngoài môi.
Hình 14-5 Đặt mô Alloderm. A, Tiền phẫu.
B, Hậu phẫu 1 tháng.
C, Hậu phẫu 7 tháng. Dù rằng có giảm thể tích rõ trong 1 -7 tháng hậu phẫu, nhưng nó cũng cải thiện rõ rệt khi so với hình ảnh tiền phẫu. Cải thiện nhiều được thấy rõ ở vùng bờ ngoài môi.

6. Vạt da mỡ/ vạt cân

6.1.Tư vấn

Quy trình có thể được thực hiện như một phẫu thuật đi kèm trong quá trình nâng trán, khi mà một lượng lớn mô bì và mô mỡ có sẵn, và tấm cân cơ thái dương có thể sẵn tiện thu hoạch. Ngoài ra, cân cơ thái dương có thể lấy độc lập qua thủ thuật nhỏ, sử dụng một vết cắt giấu kỹ. Vạt bì được thu hoạch thích hợp sẽ để lại vết sẹo tương đối ẩn trên vùng da dày không lông tóc. Khả năng tạo thành nang tuyến bã nên được giải thích với bệnh nhân. Đồng thời, sự co rút tự nhiên của vạt tự do nên được chú ý.

6.2.Thu hoạch vạt

Cân cơ thái dương B ệ n h nhân được yêu cầu dùng dầu gội hay xà phòng sát khuẩn vào đêm trước và sáng ngày phẫu thuật. Kháng sinh tiền phẫu, giảm đau và an thần được sử dụng đường uống. Tóc được cạo rộng 1 cm và 5 cm chiều dài theo hướng thẳng đứng phía trên vùng vành tai. Tóc được buộc lại bằng dây thun để bộc lộ rõ vùng cạo. Bệnh nhân được đặt ở tư thế nằm ngửa, đầu quay về phía đối diện. Kim 27G được dùng để tiêm dung dịch lidocaine 1% pha epinephrine 1:100,000 trong dung dịch natri bicarbonate. Tiêm khoảng 10 ml. Kế đó, chuẩn bị da với phisohex, và che phủ vùng đầu với drape vô trùng. Vết cắt dọc dài 4 cm trên da đầu, dọc theo hướng của búi tóc. Tấm dưới cân galea được tách từ mô liên kết thưa bằng động tác lướt nhẹ với dụng cụ nâng Freer. Người phụ mổ sẽ bộc lộ cân cơ thái dương bằng cách nâng phần vành bằng hai ngạnh của banh. Tiêm thêm thuốc gây tê vào cơ thái dương bên dưới lớp cân được bộc lộ. Tạo vết cắt vuông
1.5 x 5 cm trên cân. Vết cắt sẽ đi sâu vào phần nông của cơ. Một đầu tận của cân được kẹp bởi forcep có răng và nâng nhẹ. Dùng kéo phẫu thuật cạo phần trên của cơ và cân đi kèm. Một dải cân cơ được tách ra. Không được để chảy máu. Lớp cân không cần đều nhau, trừ phi có thể tách ra dễ dàng. Khâu lại lớp galea bằng chỉ Vicryl 4-0, và da đầu được khâu đóng bằng chỉ nylon 4-0 với mũi khâu liên tục. Vạt ghép được cắt tỉa để phù hợp với chiều dài môi và độ dày mong muốn khi nâng môi. Vạt da cần dài hơn một chút để phù hợp với sự co rút mô sau này. Chỉ khâu lụa 2-0 đi qua mỗi đầu của cân như đã đề cập ở vạt ghép Alloderm.
Vạt da mỡ Vạt da mỡ có thể được lấy từ bất kì vùng da dày không lông nào. Dù có thể thu hoạch độc lập, nhưng tốt nhất vẫn nên làm trong quá trình nâng trán. Vùng da trước tai được ưa thích hơn cả, vì độ dày. Vùng rãnh dưới cơ mông cũng là một lụa chọn để thu hoạch vạt ghép. Vạt gồm một lớp mô mỡ. Vạt được chuẩn bị bằng cách loại bỏ thượng bì và mô bì. Chỉ giữ lại phần dưới lớp bì và mô mỡ. Dùng chỉ lụa 2-0 theo kiểu khâu kéo thông thường. Khâu nên đi sâu, phòng biến chứng rách khi kéo.

6.3 Quy trình

Tạo đường hầm theo cách tương tự đã đề cập. Chèn vạt ghép tương tự, khâu tạm thời, dùng for- cep hàm cá sấu kéo vạt qua đường hầm, và điều chỉnh vị trí bằng cách kéo các sợi chỉ qua lại. Khâu đóng vết mổ bằng chỉ catgut chromic 4-0.

6.4.Chăm sóc hậu phẫu

Bệnh nhân được yêu cầu chườm đá vùng môi nhiều nhất có thể trong khoảng 2 ngày. Hạn chế nghiêm ngặt khi nâng môi với vạt nhân tạo. Kháng sinh phổ rộng được dùng trước và sau phẫu thuật trong 1 tuần. Những cử động môi gắng sức như chu môi, huýt sao, hôn, mở miệng rộng hoy cười rộng miệng cần phải tránh trong 1 tháng. Không hạn chế việc ăn uống trừ khi thức ăn tiếp xúc vùng mổ và phải mở miệng rộng để ăn.

6.5.Hồi phục

Sưng phù nhiều trong 3 ngày đầu, và có thể gặp chảy nước bọt. Hầu hết sưng phù giảm trong vòng 1 tuần. Có thể xảy ra tình trạng xơ cứng, không tính đến sự lựa chọn phẫu thuật, và tồn tại đến 6 tháng. Tê thường gặp và tự giới hạn. Bệnh nhân sử dụng vật liệu ghép e-PTFE sẽ cảm thấy bị cứng đờ môi trong 1 – 2 tuần. Bệnh nhân sẽ cảm giác sự hiện diện của miếng ghép, nhưng không khó chịu, trong vòng 3-4 tuần. Sau 4 tháng, bệnh nhân sẽ không còn cảm giác đó. Điều này đặc biệt hay gặp với mô ghép UltrasoftTM.

7. Tài liệu tham khảo

  1. Matti BA: Clinical use of Zyplast in correction of age- and disease-related contour deficien- cies of the face, Aesth Plast Surg 14:227, 1990.
  2. DeVore DP, Hughes E, Scott JB: Effectiveness of injectable filler materials for smoothing wrin- kle lines and depressed scars, Med Prog Techol 20:243-250, 1994.
  3. Beran SJ, Rohrich RJ: The potential role of autologous in- jectable, dermal collagen (Autol- ogen®) and acellular dermal ho- mograft (Alloderm®) in facial soft tissue augmentation, Aesth Surg J 17:420, 1998.
  4. Duranti F, Salti G, Bovani B, et al: Injectable hyluronic acid gel for soft tissue augmentation. A clinical and histological study, Der-matol Surg 24:1317-1325, 1999.
  5. Fagrell D, Enestrom S, Berggren A, et al: Fat cylinder transplantation: an experimental comparative study of three differ- ent kinds of fat transplants, Plast Reconstr Surg 98:90-98, 1996.
  6. Churukian MM: Red lip augmentation using fat injection, Facial Plast Surg Clin North Am 5:61-70, 1997.
  7. Colic MM: Lip and perioral enhancement by direct intramus- cular fat autografting, Aesthetic Plast Surg 23:36-40, 1999.
  8. Tobin HA, Karas ND: Li- paugmentation using an Alloderm graft, Oral Maxillofac Surg 56:722- 727, 1998.
  9. Ellis D, Trimas SJ: Gore-Tex implants for the correction of thin lips, Laryngoscope 105:207, 1995.
  10. Conrad K, MacDonald MR: Wide polytef (Gore-Tex) im- plants in lip augmentation and nasolabial groove correction, Arch Otolaryngol Head Neck Surg 122:664, 1996.
  11. Wang J, Fan J, Nordstrom REA: Evaluation of lip augmenta- tion with Gore-Tex facial implant, Aesth Plast Surg 21:433-436, 1997.
  12. Israelsen LD: Surgical protocol for SoftFormTM and Ul- traSoftTM lip implant, San Francis- co, Tissue Technologies.
  13. Adams WP: Instructional DVD, San Francisco, Tissue Tech- nologies.
  14. Lassus C: Surgical vermil- lion augmentation: different possi- bilities, Aesth Plast Surg 16:123- 127, 1992.
  15. Maloney BP: Cosmetic surgery of the lips, Facial Plast Surg 12: 265-278, 1996.
  16. Kesselring UK: Rejuve- nation of the lips, Ann Plast Surg 16:480-486, 1986.
  17. Nicolle FV, Chir M, Ba- sim A, et al: Dermal and facial au- tografts in facial aesthetic surgery, Aesth Plast Surg 16:219-225, 1992.

Tham khảo thêm một số bài viết cùng chủ đề

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *